The Return of Artificial Intelligence - IELTS Reading Passage 3
April 26, 2026
72 views

It is becoming acceptable again to talk of computers performing human tasks such as problem-solving and pattern-recognition.
Nó đang trở nên có thể chấp nhận lần nữa để nói về những máy tính mà thực hiện những công việc của con người chẳng hạn như giải quyết vấn đề và nhận diện khuôn mẫu.
Paragraph A
After years in the wilderness, the term "artificial intelligence" (Al) seems poised to make a comeback. Al was big in the 1980s but vanished in the 1990s. It re-entered public consciousness with the release of Al, a movie about a robot boy. This has ignited public debate about Al, but the term is also being used once more within the computer industry. Researchers, executives and marketing people are now using the expression without irony or inverted commas. And it is not always hype. The term is being applied, with some justification, to products that depend on technology that was originally developed by Al researchers. Admittedly, the rehabilitation of the term has a long way to go, and some firms still prefer to avoid using it. But the fact that others are starting to use it again suggests that Al has moved on from being seen as an over - ambitious and under-achieving field of research.
Sau nhiều năm vắng bóng, thuật ngữ "Trí tuệ nhân tạo" (AI) dường như sẵn sàng để quay trở lại. AI thì lớn mạnh trong những năm 1980 nhưng bị lãng quên vào những năm 1990. Nó đã tái xâm nhập vào nhận thức công chúng với sự công bố về AI, một bộ phim về đồ chơi robot. Điều này đã khơi dậy sự tranh luận công chúng về AI, nhưng thuật ngữ này cũng đang được sử dụng nhiều hơn thế trong lĩnh vực máy tính. Những nhà nghiên cứu, nhà điều hành và người quảng bá thì đang sử dụng khái niệm mà không có bất kỳ sự mỉa mai hay dư luận trái chiều nào. Và nó không phải luôn là cơn sốt. Thuật ngữ đang được áp dụng, với một vài lý do chính đáng, đối với những sản phẩm mà nó phụ thuộc vào công nghệ được phát triển ban đầu bởi những nhà nghiên cứu AI. Phải công nhận là sự phục hồi (trở lại) của thuật ngữ này có một chặn đường khá dài, và một số công ty thì có khuynh hướng tránh sử dụng nó. Nhưng sự thật là những công ty khác thì đang bắt đầu để sử dụng nó một lần nữa và điều đó cho rằng AI đã kết thúc việc bị nhìn nhận là quá mức - tham vọng và nghiên cứu lĩnh vực kém hiệu quả.
Paragraph B
The field was launched, and the term "artificial intelligence" coined, at a conference in 1956 by a group of researchers that included Marvin Minsky, John McCarthy, Herbert Simon and Alan Newell, all of whom went on to become leading figures in the field. The expression provided an attractive but informative name for a research programme that encompassed such previously disparate fields as operations research, cybernetics, logic and computer science. The goal they shared was an attempt to capture or mimic human abilities using machines. That said, different groups of researchers attacked different problems, from speech recognition to chess playing, in different ways; Al unified the field in name only. But it was a term that captured the public imagination.
Lĩnh vực này đã được triển khai, và thuật ngữ "Trí tuệ nhân tạo" đã được ra đời, tại một buổi hội nghị vào năm 1956 bời một nhóm các nhà nghiên cứu trong đó gồm có Marvin Minsky, John McCarthy, Herbert Simon và Alan Newell, tất cả họ đã tiếp tục trở thành những chuyên gia dẫn đầu trong lĩnh vực này. Sự trình bày đã mang lại một cái tên ấn tượng nhưng đầy thông điệp cho chương trình nghiên cứu mà nó đã bao gồm những lĩnh vực khác nhau trước đây như vận hành nghiên cứu, điều khiển học, logic và khoa học máy tính. Mục tiêu mà họ đã chia sẻ là sự nổ lực để ghi (nắm giữ) lại hoặc bắt chước (mô phỏng) những khả năng của con người khi sử dụng máy móc. Nó được nói rằng, nhóm các nhà nghiên cứu khác nhau thì đã đánh vào (xoay quanh) những vấn đề khác nhau, từ nhận diện giọng nói cho đến việc chơi cờ, trong nhiều cách khác nhau; AI đã thống nhất lĩnh vực trong chỉ bằng cái tên của nó. Nhưng nó là một thuật ngữ mà đã ghi lại trí tưởng tượng của công chúng.
Paragraph C
Most researchers agree that Al peaked around 1985. A public reared on science-fiction movies and excited by the growing power of computers had high expectations. For years, Al researchers had implied that a breakthrough was just around the corner. Marvin Minsky said in 1967 that within a generation the problem of creating "artificial intelligence" would be substantially solved. Prototypes of medical-diagnosis programs and speech recognition software appeared to be making progress. It proved to be a false dawn. Thinking computers and household robots failed to materialise, and a backlash ensued. "There was undue optimism in the early 1980s" says David Leake, a researcher at Indiana University. "Then when people realised these were hard problems, there was retrenchment. By the late 1980s, the term Al was being avoided by many researchers, who opted instead to align themselves with specific sub-disciplines such as neural networks, agent technology, case-based reasoning, and so on."
Hầu hết những nhà nghiên cứu cho là AI đã dẫn đầu xu hướng vào khoảng năm 1985. Một cộng đồng đã reared trên những bộ phim khoa học viễn tưởng và cảm thấy phấn khích bởi sức phát triển của những máy tính có kỳ vọng cao. Qua nhiều năm, những nhà nghiên cứu AI đã ám chỉ sắp có một bước đột phá mới. Marvin Minsky đã phát biểu vào năm 1967 rằng trong cùng một thế hệ thì vấn đề của việc sáng tạo ra "Trí tuệ nhân tạo" sẽ được giải quyết đáng kể. Các kết quả ban đầu của các chương trình chuẩn đoán y khoa và phần mềm nhận diện giọng nói dường như đạt được tiến triển tốt. Nó đã minh chứng là một khởi đầu sai trái. Những máy tính suy đoán và những robot giúp việc đã thất bại để sản phẩm hoá, và một hệ luỵ đáng lên án. "Có một sự lạc quan vô lý (thoái hoá) trong những năm đầu 1980" ngài David Leake nói, một nhà nghiên cứu tại Đại học Ấn Độ. "Khi mà con người nhận ra những vấn đề này là khó khăn, nó là sự hạn chế. Vào cuối những năm 1980, thuật ngữ AI đã đang bị né tránh bởi rất nhiều nhà nghiên cứu, người mà đã chọn cách thay vì để định hướng bản thân họ với những phân ngành cụ thể như là những mạng lưới thần kinh, công nghệ tự chủ, lập luận và nhiều hơn thế".
Paragraph D
Ironically, in some ways Al was a victim of its own success. Whenever an apparently mundane problem was solved, such as building a system that could land an aircraft unattended, the problem was deemed not to have been Al in the first place. "If it works, it can't be AI" as Dr Leake characterises it. The effect of repeatedly moving the goal-posts in this way was that Al came to refer to "blue-sky" research that was still years away from commercialisation, Researchers joked that Al stood for "almost implemented". Meanwhile, the technologies that made it once the market, such as speech recognition, language translation and decision-support software, were no longer regarded as Al. Yet all three once fell well within the umbrella of Al research.
Trớ trêu thay, AI thỉnh thoảng là nạn nhân của chính sự thành công của nó. Bất kể khi nào một vấn đề gần như hết sức tầm thường được giải quyết, chẳng hạn việc xây dựng một hệ thống để đáp một chiếc máy bay không người lái, vấn đề được cho là AI không phải là trên hết. "Nếu nó hoạt động, nó không thể nào là AI" như cách mà Dr Leake mô tả nó. Ảnh hưởng của việc di chuyển liên tục các điểm mục tiêu trong phương pháp này là AI đã ám chỉ tới nghiên cứu "blue-sky" mà vẫn còn nhiều (còn xa xôi) năm để có thể thương mại hoá, những nhà nghiên cứu đã đùa là AI được viết tắt của "gần được thực hiện". Trong khi đó, những công nghệ mà đã tạo nên thị phần, chẳng hạn như nhận diện giọng nói, dịch thuật ngôn ngữ và phần mềm hỗ trợ ra quyết định, chúng không còn được nhắc tới như là AI. Tuy nhiên cả 3 đều từng nằm ở dưới cái ô của nghiên cứu AI.
Paragraph E
But the tide may now be turning, according to Dr Leake. HNC Software of San Diego, backed by a government agency, reckon chat their new approach to artificial intelligence is the most powerful and promising approach ever discovered. HNC claim that their system, based on a duster of 30 processors, could be used to spot camouflaged vehicles on a battlefield or extract a voice signal from a noisy background - tasks humans can do well, but computers cannot. "Whether or not their technology lives up to the claims made for it, the fact that HNC are emphasising the use of Al is itself an interesting development," says Dr Leake.
Nhưng thời thế (xu hướng) thay đổi, theo Dr Leake. HNC Software của San Diego, được chống lưng bởi một cơ quan chính phủ, chia sẻ thật lòng (I believe that) phương pháp mới của họ đối với trí tuệ nhân tạo là quyền lực nhất và là phương pháp đầy hứa hẹn hơn những thứ đã được khám phá. HNC tuyên bố là hệ thống của họ, dựa trên 1 tập hợp 30 vi xử lý, có thể được sử dụng để khoanh vùng (phát hiện) những phương tiện bị ẩn giấu (che đậy) trên chiến trường hoặc trích xuất một tín hiệu âm thanh từ một môi trường đầy tiếng ồn - đó là những công việc mà con người có thể làm tốt, nhưng máy tính thì không. "Liệu công nghệ của họ sống lại để tuyên bố nó có làm được hay không, nhưng thực tế HNC đang nhấn mạnh việc sử dụng AI là một sự phát triển thú vị của chính nó", ngài Dr Leake nói.
Paragraph F
Another factor that may boost the prospects for Al in the near future is that investors are now looking for firms using clever technology, rather than just a clever business model, to differentiate themselves. In particular, the problem of information overload, exacerbated by the growth of e-mail and the explosion in the number of web pages, means there are plenty of opportunities for new technologies to help filter and categorise information - classic Al problems. That may mean that more artificial intelligence companies will start to emerge to meet this challenge.
Một yếu tố khác mà có thể đẩy mạnh triển vọng cho AI trong tương lai gần là những nhà đầu tư hiện nay đang tìm kiếm những công ty mà sử dụng công nghệ tiên tiến, hơn là chỉ một mô hình doanh nghiệp tiên tiến, để tạo sự khác biệt cho chính họ. Cụ thể là, vấn đề về quá tải thông tin, bị làm cho tòi tệ hơn bởi sự phát triển của e-mail và sự bùng nổ số lượng lớn các trang web, có nghĩa là có rất nhiều cơ hội cho những công nghệ mới để hỗ trợ chọn lọc và phân loại thông tin - những vấn đề muôn thuở của AI. Điều đó có thể hiểu là ngày càng nhiều công ty trí tuệ nhân tạo sẽ bắt đầu mọc lên để đối mặt với thách thức này.
Paragraph G
The 1969 film, 2001: A Space Odyssey, featured an intelligent computer called HAL 9000. As well as understanding and speaking English, HAL could play chess and even learned to lipread. HAL thus encapsulated the optimism of the 1960s that intelligent computers would be widespread by 2001. But 2001 has been and gone, and there is still no sign of a HAL-like computer. Individual systems can play chess or transcribe speech, but a general theory of machine intelligence still remains elusive. It may be. However, that the comparison with HAL no longer seems quite so important, and Al can now be judged by what it can do, rather than by how well it matches up to a 30-year-old science-fiction film. "People are beginning to realise that there are impressive things that these systems can do." says Dr Leake hopefully.
Bộ phim năm 1969, "Năm 2001: A Space Odyssey", đã mô tả một máy tính thông minh được gọi là HAL 9000. Cũng như việc hiểu và nói tiếng Anh, HAL có thể chơi cờ và thẩm chí học khẩu hình miệng. HAL này đã khái quát sự lạc quan của những năm 1960 rằng những máy tính thông minh sẽ được lan rộng trước năm 2001. Nhưng năm 2001 đã qua, và nó vẫn không có dấu hiệu nào cho thấy có máy tính giống được như HAL. Những hệ thống cá nhân có thể chơi cờ hoặc biên dịch từ giọng nói, nhưng một lý thuyết chung của sự thông minh của máy móc vẫn đang khó nắm bắt. Nó có thể. Tuy nhiên, sự so sánh đó với HAL thì dường như không còn quá quan trọng, và AI bây giờ có thể bị phán xét bởi những gì mà nó có thể làm, hơn là cách mà nó khớp với bộ phim khoa học viễn tưởng 30 năm tuổi đời. "Con người thì đang bắt đầu công bố rằng có những thứ ấn tượng mà hệ thống có thể làm được". Dr Leake nói một cách đầy hy vọng.
Vocabulary
Just around the corner (idiom) Sẽ sớm xảy ra, sớm muộn rồi cũng sẽ.
Vanish (v) Biến mất, biến mất hút.
Conscious (adj) Có ý thức, nhận thức được.
Deemed (v) Được coi là, được xem là.
Irony (n) Sự mỉa mai, tính trớ trêu.
Hype (n) Sự thổi phồng, quảng bá quá mức, (tạo nên) cơn sốt.
Justification (n) Sự biện minh, lý do chính đáng.
Rehabilitation (n) Sự phục hồi, cải tạo.
Spot (v) Phát hiện, nhận ra.
Apparently (adv) Dường như, rõ ràng.
Coin (v) Đặt ra (từ mới), tạo ra.
Encompass (v) Bao gồm, bao quát.
Cybernetics (n) Điều khiển học.
Mimic (v) Bắt chước, mô phỏng.
Sub-discipline (n) Phân ngành (lĩnh vực nhỏ hơn trong chuyên ngành lớn).
Prototype (n) Nguyên mẫu, khuôn mẫu.
Backlash (n) Sự phản ứng dữ dội, làn sóng phản đối.
Ensue (v) Xảy ra tiếp theo, kéo theo, dẫn tới.
Endue (v) Ban cho, trao cho,
Undue (adj) Vô lý, quá mức.
Retrenchment (n) Sự cắt giảm, thu hẹp.
Duster (n) Cụm, nhóm.
Mundane (adj) Tầm thường, đơn điệu.
Make it onto (v) Được đưa lên, được xuất hiện trên, lọt vào (danh sách).
Tide (n) Dòng chảy, xu hướng.
Dawn (n) Bình minh, khởi đầu.
Unify (v) Kết hợp, hợp nhất.
Agency (n) Quyền tự chủ, khả năng hành động chủ động.
Camouflage (n) Ngụy trang, sự ngụy trang.
Battlefield (n) Chiến trường.
Prospect (n) Triển vọng.
Exacerbate (v) Làm trầm trọng hơn.
Explosion (n) Vụ nổ, sự bùng nổ.
Lipread (v) Đọc khẩu hình.
Encapsulate (v) Tóm tắt, khái quát hóa.
Opt (v) Lựa chọn.
Elusive (adj) Khó nắm bắt, khó đạt được.
Poised (adj) Sẵn sàng, chuẩn bị.
Wilderness (n) Vùng hoang dã, nơi hoang vu.